ENTJ và ESFJ có hợp nhau không
Cùng thích hành động và chốt việc, nhưng ENTJ nhìn chiến lược còn ESFJ nhìn con người: bù nhau nhiều, va nhau cũng nhiều.
ENTJ (Tổng tư lệnh) · ESFJ (Lãnh sự)
So sánh bốn chữ cái
Chữ chung: ES, undefinedundefined, undefinedundefined · Chữ khác: TJ
Hai nhóm gặp nhau
ENTJ (Tổng tư lệnh) và ESFJ (Lãnh sự) đều hướng ra ngoài và đều muốn mọi thứ được chốt. Cả hai phát mệt với những cuộc họp không đi đến đâu, những kế hoạch treo lơ lửng, những câu “để xem sao”. Khoản chung này lớn hơn vẻ ngoài khác biệt của hai nhóm. Trong một dự án, ENTJ là người mở cuộc họp và chốt deadline trước khi ai kịp phản đối. ESFJ là người nhận ra trong phòng thiếu một người và nhắn hỏi thăm ngay tối hôm đó. Một bên đẩy bằng mục tiêu, một bên đẩy bằng việc giữ mọi người dính với nhau.
Khác biệt nằm ở hai trục. ENTJ thiên về trực giác, ESFJ thiên về giác quan. Nghe trừu tượng nhưng biểu hiện thì rất cụ thể: ENTJ nói về việc đổi hướng chiến lược quý sau, còn ESFJ đang nghĩ tới thứ Ba này ai đưa con đi học, tuần sau ai trực. Cả hai đều đúng, chỉ là đang đứng ở hai tầng của cùng một kế hoạch. Trục thứ hai là cách ra quyết định. ENTJ cân đo bằng hiệu quả, ESFJ cân đo bằng việc người trong cuộc sẽ cảm thấy thế nào. Một cuộc tranh luận về ngân sách vì thế dễ tách thành hai cuộc nói chuyện song song: một về con số, một về những người bị ảnh hưởng.
Chỗ dễ vỡ nhất là cách ENTJ góp ý. Bạn nói thẳng, ghét những lời vòng vo, và với bạn phê bình công việc chỉ là phê bình công việc. ESFJ nghe thành phán xét về bản thân, nhất là khi họ vốn sợ làm người khác thất vọng. Họ im lặng, nhận thêm việc, rồi ôm bực vào mình. ENTJ đọc sự im lặng đó là đồng ý, và chỉ biết có chuyện khi mọi thứ đã căng. Đổi lại, cặp này có thứ mà nhiều cặp khác không có. ESFJ làm cho tập thể chịu được ENTJ, còn ENTJ dám ra quyết định mà ESFJ sẽ chần chừ vì sợ mất lòng ai đó.
Lời khuyên cho hai bạn
- Khi góp ý, ENTJ nói rõ đang nói về việc chứ không phải về con người: “báo cáo này thiếu số liệu” thay vì “cậu làm ăn kiểu gì vậy”.
- ESFJ đừng gật rồi ôm bực. Khó chịu thì nói trong ngày hôm đó, vì ENTJ không đọc được tín hiệu ngầm và sẽ hiểu im lặng là đồng ý.
- ENTJ nên nói ra điều mình trân trọng, càng cụ thể càng tốt. Một câu như “nhờ cậu giữ liên lạc mà cuộc họp này chạy được” có sức nặng hơn cả việc không phàn nàn gì.
- Khi ENTJ hỏi thẳng, ESFJ trả lời thẳng. “Sao cũng được” là câu trả lời tệ nhất với một người thích chốt.
- Chia vai theo thế mạnh: ENTJ lo mục tiêu và đường đi, ESFJ lo con người và các bước cụ thể. Cãi nhau về chiến lược quý sau khi chưa thống nhất thứ Ba này làm gì thì thường chẳng đi đến đâu.
Câu hỏi thường gặp
ENTJ và ESFJ có hợp nhau không?
Có, miễn là cả hai chịu nói thẳng trước khi mọi thứ căng. Hai bạn chung nhu cầu hành động và chốt việc, nên ít rơi vào cảnh chờ đợi nhau. Chỗ cần làm việc là chuyện góp ý: ENTJ coi nhẹ, còn ESFJ thì coi nặng.
Điều gì khiến ENTJ và ESFJ cãi nhau nhiều nhất?
Thường là cách góp ý và tốc độ ra quyết định. ENTJ muốn chốt ngay dựa trên hiệu quả, ESFJ muốn hỏi thêm vài người để không ai bị gạt ra ngoài. Khi ENTJ gọi đó là vòng vo còn ESFJ gọi đó là tắc trách với mọi người, cuộc nói chuyện leo thang rất nhanh.
Làm sao để ESFJ bớt tổn thương trước lời góp ý thẳng của ENTJ?
Tách công việc khỏi con người. ENTJ thường nói kết luận trước rồi mới nói lý do, nên câu nghe nặng hơn ý thật. Hỏi lại một câu cụ thể, ví dụ “ý cậu là phần số liệu hay phần trình bày?”, sẽ kéo cuộc nói chuyện về đúng chỗ.
Các cặp khác với ENTJ
136 cặp
